Chào mừng quý vị đến với website của Nhà Giáo Đỗ Văn Bình - GV trường THPT Liễn Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc - "KẾT NỐI TƯ DUY, CHIA SẺ KINH NGHIỆM, HOÀN THIỆN BẢN THÂN, TỐT HÓA CÔNG VIỆC, CUỘC SỐNG VÀ XÃ HỘI"
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
TẢN VĂN 36
Nguyễn Trãi (1380 - 1442), tên tự là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Trung Tín (nay thuộc Hà Nội. Ông sống vào một giai đoạn lịch sử sôi động, từ cuối đời Trần, trải qua đời Hồ, thời Minh thuộc cho đến khởi nghĩa Lam Sơn) và đầu đời Lê. Cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, sau đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh, tên hiệu là Nhị Khê, người gốc làng Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn (nay thuộc Chí Linh Hải Dương), nhưng đã di cư sang làng Ngọc Ổi (sau đổi tên thành Nhị Khê) huyện Thượng Phúc (nay là huyện Thường Tín, Hà Nội) [1]. Mẹ là Trần Thị Thái, con gái thứ ba tư đồ Trần Nguyên Đán, cháu sáu đời của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải. Năm sinh năm mất của bà hiện nay vẫn chưa rõ. Mối lương duyên giữa Nguyễn Phi Khanh và Trần Thị Thái đã trở thành một giai thoại, được ghi trong chính sử. Đại Việt sử kí bản kỉ toàn thư, quyển 8, kỉ nhà Trần chép rằng : Kết duyên cùng Nguyễn Phi Khanh, Trần Thị Thái đã sinh hạ được tất cả năm người con trai, Thứ tự là: Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn Phi Hùng. Nguyên Đán có hai người con gái, con trưởng tên là Thái, con thứ tên là Thai[a], sai nho sinh đem văn học dạy cho hai người.Nguyễn Ứng Long dạy Thái, Nguyễn Hán Anh dạy Thai. Ứng Long nhân gần gũi lả lơi, làm thơ ca quốc ngữ[b]khêu gợi Thái, thông dâm với Thái, Hán Anh cũng làm thơ quốc ngữ bắt chước Ứng Long. Thái có thai, Ứng Long bỏ trốn. Đến ngày Thái đẻ, Nguyên Đán hỏi Ứng Long ở đâu. Người nhà trả lời là Ứng Long sợ tội trốn đi rồi. Nguyên Đán nói: "Vận nước sắp hết, biết đâu chẳng phải là trời xui nên thế, vị tất không phải là phúc." Bèn cho gọi hai chàng về bảo rằng: "Người xưa cũng đã có chuyện này. [Các ngươi]không thấy chuyện Văn Quân với Tương Như hay sao[c] ? Nếu [các ngươi] làm được như Tương Như, truyền lại danh tiếng cho đời sau thì đó là điều mong muốn của ta." Hai chàng cảm ơn sâu nặng, chăm chỉ học hành. Đến khi thi, cả hai đều đỗ. Thượng hoàng[d] nói: "Bọn chúng có vợ giàu sang, như thế là kẻ dưới mà dám phạm thượng, bỏ không dùng Sau Hán Anh làm quan đến chức Chuyển vận. Ứng Long đến nhà Hồ được cất nhắc sử dụng, đổi tên là Phi Khanh (Phi Khanh sinh ra Trãi, cũng đỗ thái học sinh)
Thời thơ ấu
Sau khi thi đỗ, do không được làm quan, Nguyễn Phi Khanh trở về làng Nhị Khê mở trường dạy học, còn Nguyễn Trãi vẫn ở lại tư dinh của ông ngoại cùng với mẹ và các em. Năm 1385, Trần Nguyên Đán về trí sĩ ở Thanh Hư Động, Nguyễn Trãi cùng mẹ và các em cũng theo về đó. Côn Sơn chính là nơi quê tổ của Nguyễn Trãi vì cả dãy núi Côn Sơn thuộc vào địa phận xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn nay thuộc phường Cộng Hoà, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Có lẽ vì vậy mà ông rất nặng tình với Côn Sơn và thường nhắc đến Côn Sơn trong các sáng tác của mình, sau này cũng về trí sĩ ở Côn Sơn[3] Nhưng chưa được bao lâu thì mẹ ông qua đời. Năm 1390 ông ngoại cũng mất, Nguyễn Trãi cùng em về Nhị Khê ở với cha. Tuy nhiên, trong quyển Nguyễn Trãi, anh hùng dân tộc, Ngô Văn Triện cho biết rằng.Ở Nhị Khê, Nguyễn Phi Khanh đã ra công rèn cặp các con theo khuôn khổ Nho giáo mà có lẽ là Nho giáo Khổng Mạnh, chứ không học Tống Nho vì Hồ Quý Ly đã bài bác Tống Nho là không thiết thực[4]. Tuy còn ít tuổi nhưng Nguyễn Trãi rất ham học. Điều đó được cha ông nói đến trong bài thơ Gia viên lạc
Cố viên loạn hậu hữu tiên lư
Lục tuế nhi đồng phả ái thư
Dịch nghĩa :
Vườn xưa sau loạn còn nhà cũ
Sáu tuổi con thơ rất thích sách
Năm Xương Phù thứ 9 (1387) [e], Băng Hồ tướng công được phép trí sĩ, lui về hưu dưỡng ở động Thanh Hư tại Côn Sơn. Bấy giờ Nguyễn Trãi lên sáu tuổi, tướng công vì yêu thương cháu, cũng đem theo về. Nhưng ở Côn Sơn được một độ, Trãi vì nhớ cha mẹ và các em nhỏ bấy giờ hiện về ở Nhị Khê, ngày đêm buồn bã chẳng tưởng gì học hành. Tướng công không làm sao được, lại phải sai người đưa Trãi về ở Nhị Khê với cha mẹ
Làm quan với nhà Hồ
Ngày 28 tháng 2 âl năm 1400, Hồ Quý Ly phế truất vua Trần Thiếu Đế, lật đổ nhà Trần, lập ra triều Hồ. Cũng trong năm đó, nhà Hồ mở khoa thi Nho học, Nguyễn Trãi tham dự và đỗ Thái học sinh, được trao chức Ngự sử đài Chánh chưởng. Nguyễn Phi Khanh cũng ra làm quan với triều đại mới, làm đến chức Hàn Lâm viện học sĩ.
Thời kì này, nhà Hồ đã cho thi hành cải cách nhằm củng cố và phát triển sức mạnh của nước Đại Ngu sau nhiều năm dài khủng hoảng ở cuối thời Trần. Tuy nhiên, việc ban hành chính sách cải cách quá dồn dập và chủ yếu để phục vụ chiến tranh, cộng với sự bất bình, chia rẽ sâu sắc giữa lòng dân và chính quyền đã khiến những cải cách này đi vào bế tắc, khiến tình hình đất nước vẫn hết sức rối ren. Năm 1407, Minh Thành Tổ phái Trương Phụ đem quân xâm lược Đại Ngu, nhà Hồ kháng chiến thất bại, Hồ Quý Ly cùng nhiều triều thần bị bắt và bị đem về Trung Quốc. Đại Ngu rơi vào ách Minh thuộc. Trong số những triều thần nhà Hồ bị bắt về Trung Quốc có Nguyễn Phi Khanh. Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim kể về Nguyễn Trãi, có chép lại một giai thoại rằng.( dĩ Khi ông Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt về Kim Lăng, ông [Nguyễn Trãi] theo khóc, lên đến cửa Nam Quan không chịu trở lại. Ông Phi Khanh bảo rằng: " Con phải trở về mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì ? " Từ đó ông trở lại, ngày đêm lo việc phục thù.Tuy nhiên, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, Nhân vật chí, mục Nguyễn Trãi lại ghi rằngKhông bao lâu người Minh xâm, hai vua Hồ bị bắt...chỉ có ông thoát được. Tổng binh Trương Phụ ép Phi Khanh viết thư gọi ông, ông bất đắc phải ra hang)
Mười năm phiêu dạt
Cuộc đời Nguyễn Trãi từ sau năm 1407 đến khi vào yết kiến Bình Định Vương ở Lỗi Giang để tham gia khởi nghĩa Lam Sơn vẫn còn là một ẩn số. Cho tới nay, chưa thấy được những tài liệu chính xác, đầy đủ về Nguyễn Trãi trong thời kỳ đó. Sử sách không chép và bản thân Nguyễn Trãi cũng không ghi lại điều gì cụ thể [5]. Nguyễn Trãi cũng chỉ nói nhiều đến thập niên phiên chuyển (mười năm phiêu dạt) [6] lênh đênh ở nơi chân trời góc biển. Ngô Văn Triện trong Nguyễn Trãi, anh hùng dân tộc và Trần Huy Liệu trong Nguyễn Trãi, sau khi bái biệt cha, Nguyễn Trãi quay trở lại tìm đường cứu nước nhưng về đến thành Đông Quan, ông bị quân Minh bắt giữ vì xét cho cùng, ông vốn từng giữ chức Ngự sử triều Hồ, là một người đã sẵn có thanh danh vị vọng[7]. Trương Phụ muốn dụ dỗ ông ra làm quan với người Minh nhưng Nguyễn Trãi từ chối. Trương Phụ tức giận, định đem Nguyễn Trãi ra giết. Thượng thư Hoàng Phúc tiếc tài Nguyễn Trãi, bèn can Trương Phụ và tha cho Nguyễn Trãi, nhưng lại giam lỏng Nguyễn Trãi ở thành Đông Quan, không được đi đâu. [8]. Ngô Văn Triện cho rằng Nguyễn Trãi đã sống ở đây cho tới khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Trần Huy Liệu dè dặt hơn, ông cho biết rằng Hiện nay vẫn chưa đủ tài liệu để khẳng định dứt khoát rằng trong khoảng thời gian từ năm 1407 đến năm 1417, Nguyễn Trãi ở luôn Đông Quan hay có đi đâu không ? Theo Theo Nguyễn Lương Bích trong Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, dựa trên văn thơ của Nguyễn Trãi để lại và một vài ghi chép của Lê Quý Đôn trong Toàn Việt thi lục nói Nhà Hồ mất, ông về ở ẩn và Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục viết Nhà Hồ mất, ông tránh loạn ở Côn Sơn, Nguyễn Lương Bích khẳng định sau cuộc kháng chiến thất bại của Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi đã đi lánh nạn trong một khoảng thời gian khá dài chứ không hề bị quân Minh bắt giữ. Ông đã từng lánh ở Côn Sơn và sau đó còn chu du ở nhiều nơi khác nữa[10] . Ngoài ra, còn một số người đoán rằng Nguyễn Trãi đã từng sang Trung Quốc ở thời kì này[11], dựa trên một số bài thơ của ông có nhắc đến các địa danh ở Trung Quốc như Bình Nam[f] dạ bạc (Đêm đỗ thuyền ở Bình Nam), Ngô Châu[g], Giang Tây[h], Thiều Châu Văn Hiến miếu[i](Thăm miếu thờ ông Văn Hiến ở Thiều Châu), Đồ trung kí hữu (Trên đường gửi bạn)... Nguyễn Lương Bích cho rằng : Những tư tưởng chính trị, quân sự ưu tú cùng nhiều quan điểm đạo đức, triết học của ông đã được củng cố và phát triển tốt đẹp trong thời kỳ này. Trên cơ sở của thực tiễn cuộc sống và những kinh nghiệm chiến đấu của các thời đại, đồng thời cũng rút ra từ tư tưởng nhân nghĩa của ông, Nguyễn Trãi đã xây dựng cho mình những quan điểm đúng đắn về khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược
Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn
Yết kiến ở Lỗi Giang
Nguyễn Trãi đã tham gia và trở thành một trong những yếu nhân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đó là một điều chắc chắn. Tuy nhiên, về thời điểm Nguyễn Trãi lên Lỗi Giang[k] yết kiến Bình Định Vương Lê Lợi, hiện nay các tài liệu chưa được thống nhất. Có học giả cho rằng Nguyễn Trãi đã có mặt trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ hội thề Lũng Nhai vào năm 1416[12]. Một số tài liệu khẳng định Nguyễn Trãi tham gia nghĩa quân Lam Sơn vào năm 1420[13] hoặc 1421 hay sau đó một chút. Đặc biệt, theo bản Đinh tộc ngọc phả của dòng họ Đinh Liệt thì Nguyễn Trãi lấy tên là Trần Văn và Trần Nguyên Hãn lấy tên là Trần Võ, đến Lỗi Giang gia nhập nghĩa quân vào mùa xuân năm 1423.[15]. Ý kiến này có lẽ là chắc chắn hơn cả. Nó phù hợp với nhận xét Nguyễn Lương Bích trong Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước Đinh tộc ngọc phả cũng ghi chép một câu chuyện về sự ra mắt của Nguyễn Trãi. Khi ấy, quân Lam Sơn rút lên núi Chí Linh lần thứ ba, lương thực thiếu thốn, quân sĩ mỏi mệt. Về phía quân Minh cũng lúng túng với việc đánh dẹp quân khởi nghĩa, có ý muốn giảng hoà. Ngày 26 tháng 2 âl năm 1423, Bình Định Vương cùng các tướng lĩnh hội bàn phương lược khởi nghĩa. Lê Sát, Lê Thụ, Đinh Bồ, Phạm Vấn kiên quyết muốn đánh nhưng Đinh Liệt chủ trương hoà hoãn để xây dựng lực lượng. Nguyễn Trãi theo Nguyễn Nhữ Lãm đẩy cửa bước vào, ung dung phân tích phải trái, khuyên Bình Định Vương nên giảng hoà với quân Minh làm thượng sách. Ý kiến ấy của Nguyễn Trãi nhanh chóng được chấp thuận. Ra mắt Lê Lợi, Nguyễn Trãi còn trao cho vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn bản Bình Ngô sách, trong đó Nguyễn Trãi vạch ra ba kế sách đánh quân Minh[17]. Trong bài tựa Ức Trai di tập, Ngô Thế Vinh có nói Bình Ngô sách hiến mưu chước lớn, không nói đánh việc đánh thành mà lại nói đến việc đánh vào lòng người (tâm công 心 攻), cuối cùng nhân dân và đất đai mươi lăm đạo nước ta sẽ đem về cho ta cả[18]. Theo Đinh tộc ngọc phả, bút kí của Đinh Liệt cũng ghi rằng
Trần Văn Bình Ngô sách
Diệu kế ở tâm công
Dùng nghĩa giành nhân
Lấy nhân xua cường bạo[19]
Sau khi xem Bình Ngô sách, Nguyễn Trãi được Lê Lợi phong cho chức Tuyên phong đại phu Thừa chỉ Hàn Lâm viện[20], ngày đêm dự bàn việc quân. Nguyễn Trãi đứng trong hàng ngũ chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn từ những ngày ở Lỗi Giang, nhưng tên tuổi sự nghiệp của ông ghi lại trong lịch sử của dân tộc, chỉ là từ sau khi nghĩa quân Lam Sơn rút về núi Chí Linh lần thứ ba, tức là từ năm 1423 trở đi.
Các tác phẩm văn thơ
Nguyễn Trãi để lại rất nhiều trước tác, cả bằng Hán văn và bằng chữ Nôm, song đã bị thất lạc sau Vụ án Lệ Chi Viên. Ông là một trong những tác giả thơ Nôm lớn của Việt Nam thời phong kiến, điển hình là tác phẩm Quốc âm thi tập. Được biết đến nhiều nhất là Bình Ngô đại cáo được viết sau khi nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi trong cuộc chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm (1418–1427). Tác phẩm này đã thể hiện rõ ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt cũng như việc lấy dân làm gốc với những câu như: Dục Thúy Sơn (Ninh Bình)-Ngọn núi trong bài thơ cùng tên của Nguyễn Trãi
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Bình Ngô đại cáo được người đương thời rất thán phục, coi là "thiên cổ hùng văn"
Đỗ Văn Bình @ 18:17 27/07/2014
Số lượt xem: 528
- TẢN VĂN 35 (27/07/14)
- TẢN VĂN 34 (27/07/14)
- TẢN VĂN 33 (27/07/14)
- TẢN VĂN 32 (27/07/14)
- TẢN VĂN 31 (27/07/14)
Các ý kiến mới nhất