Chào mừng quý vị đến với website của Nhà Giáo Đỗ Văn Bình - GV trường THPT Liễn Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc - "KẾT NỐI TƯ DUY, CHIA SẺ KINH NGHIỆM, HOÀN THIỆN BẢN THÂN, TỐT HÓA CÔNG VIỆC, CUỘC SỐNG VÀ XÃ HỘI"
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
TÀI LIỆU PPT 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:43' 20-08-2014
Dung lượng: 680.7 KB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:43' 20-08-2014
Dung lượng: 680.7 KB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN
“CÁC KĨ NĂNG PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG”
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23-27 tháng 12 năm 2013
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH NHÀ TRƯỜNG
Bài 1
Quan niệm về chương trình và phát triển chương trình
Theo Luật Giáo dục
Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông.
Khái niệm về chương trình
Các thành tố cơ bản của Chương Trình giáo dục
(hàm chứa mọi nội dung và trình tự của quá trình xây dựng chương trình)
Chỉ hoạt động lựa chọn, tổ chức, điều chỉnh nhằm làm cho học sinh thu được kinh nghiệm mang tính giáo dục, thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh thần của học sinh và khiến cho các kinh nghiệm đó được quy phạm hoá.
Hách Đức Vĩnh. Phương pháp luận phát triển chương trình. NXB Khoa học giáo dục. Bắc kinh. 2001.
Phát triển chương trình
“Curriculum Development”
Những tiền đề của việc phát triển chương trình:
a) Thay đổi là điều cần thiết và không thể tránh được, vì thông qua sự thay đổi cuộc sống có được sự trưởng thành và phát triển
b) Chương trình giáo dục không chỉ phản ánh mà còn là sản phẩm của thời đại.
c) Các thay đổi trong chương trình giáo dục được thực hiện ở một giai đoạn trước đó có thể tồn tại đồng thời với những thay đổi được thực hiện ở giai đoạn sau.
e) Thay đổi chương trình là kết quả tác động của sự nỗ lực hợp tác của các nhóm.
d) Thay đổi chương trình xuất phát từ những thay đổi ở con người.
Nhiệm vụ phát triển chương trình
g) Xây dựng chương trình về cơ bản là một quá trình đề ra quyết định.
h) Xây dựng chương trình là một quá trình không bao giờ kết thúc, vì xã hôi và
i) Xây dựng chương trình là một quá trình toàn diện.
k) Xây dựng chương trình một cách có hệ thống hiệu quả hơn cách làm thử - sai.
m) Nhà thiết kế chương trình bắt đầu từ chương trình hiện có, giống như giáo viên bắt đầu từ học sinh
Những tiền đề của việc phát triển chương trình (tiếp)
Hoạch định chương trình
Thực hiện chương trình
Đánh giá và điều chỉnh chương trình
Các nhiệm vụ phát triển chương trình
-
“Dạy cái gì”:
Lựa chọn căn cứ thiết kế chương trình, xác định tiêu chuẩn chương trình, mục đích chương trình, mục tiêu chương trình và việc lựa chọn, tổ chức nội dung chương trình
Hoạch định chương trình
Chuyển đổi từ lĩnh vực chương trình sang lĩnh vực giảng dạy, chuyển đổi từ người làm chương trình sang giáo viên.
Thực hiện chương trình
Đánh giá kết quả học tập và xác định thành công của của cả người học lẫn chương trình
Đánh giá và điều chỉnh chương trình
Quy trình phát triển chương trình
Chương trình
Phân tích
Đánh giá
Thiết kế
Thực hiện
Phát triển
Quy trình phát triển chương trình
Đây là quá trình thu thập những thông tin chung về đặc điểm, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương hoặc của một vùng cụ thể; về đặc điểm, nhu cầu phát triển của học sinh, về mong đợi của cộng đồng dân cư đối với tương lai của con em mình và về các điều kiện đảm bảo như cơ sở vật chất,.
Đánh giá nhu cầu
Những tuyên bố về kết quả mong đợi ở đầu ra của một nền giáo dục
Hình thành mục đích
Là sự miêu tả các kết quả mong đợi của một chương trình giáo dục.
Cụ thể hóa các mục tiêu hành động
Trong việc lựa chọn nội dung, người làm chương trình cần xem xét các vấn đề sau:
Tính giá trị và ý nghĩa của nội dung.
Tính thích hợp với thực tế xã hội.
Cân đối các yêu cầu cả bề rộng lẫn chiều sâu.
Xây dựng các mục tiêu đa dạng.
Tính khả thi và thực tiễn của các yêu cầu.
Sự phù hợp với nhu cầu và sở thích của người học
Lựa chọn, sắp xếp nội dung
Việc lựa chọn nội dung giảng dạy thường dựa vào các tiêu chí cơ bản như sau:
Về ý nghĩa, nội dung phải có ý nghĩa đối với nhu cầu và lợi ích của người học và có ý nghĩa đối với xã hội.
Về tiện ích, nội dung phải thực sự hữu dụng trong cuộc sống của người học.
Về hiệu lực, nội dung phải chính xác và cập nhật liên tục.
Về sự phù hợp, nội dung phải phù hợp với trình độ phát triển nhận thức và tâm sinh lí của người học.
Về tính khả thi, nội dung phải phù hợp với bối cảnh thực tế về môi trường giáo dục, điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và vai trò của chính phủ.
Ornstein, A và Hunkins,F. 1998. Curriculum: Foundations, principle and issues. Boston, MA: Allyn&Bacon.
Lựa chọn, sắp xếp nội dung (tiếp)
Một số cách tổ chức, sắp xếp nội dung như sau:
1) Sắp xếp theo phạm vi nội dung, như: khối lượng tri thức, mức độ sâu, rộng của các chủ đề,…..
2) Sắp xếp theo mối tương quan giữa các nội dung được lựa chọn, như: từ đơn giản đến phức tạp; mở rộng, nâng cao dần theo dạng xoắn ốc; từ sự hiểu biết nội dung này đến hiểu biết nội dung khác (tuyến tính)….
3) Tích hợp các khái niệm, tri thức, kĩ năng, giá trị của nhiều môn học để giúp học sinh có hình ảnh thống nhất về các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội
a) Về phương pháp dạy học
b) Về hình thức tổ chức dạy học
Xác định phương pháp, hình thức dạy học
Phương pháp dạy học truyền thống
a) Về phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học hiện đại
Phương pháp dạy học thụ động
Phương pháp dạy học tích cực
- Hình thức tổ chức dạy học trên lớp
- Hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp
- Hình thức tổ chức dạy học theo nhóm
- Hình thức tổ chức dạy học toàn lớp
b) Về hình thức tổ chức dạy học
Tổ chức dạy học theo thời gian học tập xác định và ở một địa điểm riêng biệt, GV chỉ đạo hoạt động nhận thức có tính chất tập thể ổn định, có thành phần không đổi,
Hình thức tổ chức dạy học trên lớp
Là hình thức giáo viên tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh ở địa điểm ngoài lớp học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nắm vững, mở rộng kiến thức thông qua các hoạt động và các mối quan hệ đa dạng từ môi trường học tập
Hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp
là hình thức tổ chức dạy học kết hợp tính tập thể và tính cá nhân, trong đó học sinh từng nhóm dưới sự chỉ đạo của giáo viên trao đổi những ý tưởng, nguồn kiến thức với nhau, giúp đỡ, hợp tác với nhau trong việc nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
Hình thức tổ chức dạy học theo nhóm
là hình thức tổ chức dạy học trong đó giáo viên chỉ đạo, điều khiển cùng lúc hoạt động của tất cả học sinh, điều khiển việc lĩnh hội tri thức, việc ôn tập và củng cố tri thức, rèn luyện kỹ năng chung cho cả lớp nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập chung.
Hình thức tổ chức dạy học toàn lớp
Đánh giá kết quả học tập
Là việc thu thập, phân tích, xử lí thông tin để phản hồi sự tiến bộ học tập của học sinh hàng ngày trên lớp học. Loại đánh giá này được thực hiện thông qua nhiều hình thức, như: quan sát, phỏng vấn, hồ sơ học tập, trình diễn, dự án học tập, tự đánh giá.
Đánh giá quá trình.
. Được thực hiện tại các thời điểm kết thúc một giai đoạn giáo dục nhằm xác nhận kết quả đạt được so với mục tiêu giáo dục tương ứng tại thời điểm đó. Kiểu đánh giá này diễn ra ở nhiều hình thức, như: đánh giá cuối học kì, cuối năm học, thi tốt nghiệp cấp học, đánh giá dựa vào nhà trường và đánh giá trên diện rộng.
Đánh giá tổng kết
CÁC LOẠI CHƯƠNG TRÌNH
Chương trình xây dựng tiếp cận nội dung
Chương trình theo tiếp cận phát triển năng lực học sinh
Theo tiếp cận này chương trình được mô tả hệ thống nội dung theo logic các môn học, logic các đơn vị nội dung trong một môn học, giữa các cấp học, khối lớp; Chương trình loại này thường bị nhấn mạnhghi nhớ, tái tạo kiến thức cả trong hoạt động dạy, hoạt động học và kiểm tra – đánh giá kết quả học tập
Chương trình xây dựng tiếp cận nội dung
Năng lực là gì?
Năng lực chung là gì?
Năng lực chuyên biệt là gì?
Chương trình theo tiếp cận phát triển năng lực học sinh
Tiếp cận hình thành năng lực cá nhân, con người, nghĩa là hình thành, củng cố và phát triển năng lực và nhu cầu cấu thành bản chất người có năng lực tiềm tàng để sống và làm việc; để tìm kiếm, lựa chọn, tiếp nhận và xử lý thông tin, qua đó học được tri thức và các kỹ năng bằng tư duy phê phán, phản biện. Đó là những năng lực chung và năng lực chuyên biệt
Một số định hướng cơ bản xây dựng CTGDPT theo tiếp cận năng lực
Chương trình hướng đến quá trình giáo dục chuyển từ giáo dục nhấn mạnh trang bị kiến thức sang trang bị cho học sinh hệ thống kỹ năng cơ bản, kỹ năng sống và tự học suốt đời
Chương trình hướng tới giáo dục vì sự phát triển bền vững.
Giáo dục tri thức phổ thông cơ bản/nền tảng có tính phổ cập bắt buộc
Giáo dục tích hợp
- Tích hợp nhuần nhuyễn kết hợp với phân hóa sâu
Một số ưu điểm và hạn chế của chương trình định hướng nội dung
Một số ưu điểm và hạn chế của chương trình định hướng năng lực
có chương trình quốc gia,
chương trình địa phương và
chương trình nhà trường (CTNT).
Theo cấp độ quản lí chương trình:
Chương trình giáo dục quốc gia
“Bản sơ đồ thiết kế cơ bản của giáo dục” làm cơ sở để xây dựng, thực hiện chính sách, chế độ thi cử, cấp bằng tốt nghiệp, phát triển học liệu, sách giáo khoa, thiết bị giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý, xây dựng cơ chế tài chính, hành chính trong hệ thống giáo dục.
Quy trình các yếu tố cấu trúc chương trình quốc gia
Chương trình giáo dục cấp Sở là văn bản hướng dẫn việc điều hành, tổ chức chương trình giáo dục cho các nhà trường. Chương trình giáo dục địa phương có vai trò cầu nối, ứng dụng linh hoạt chương trình giáo dục quốc gia và chuẩn địa phương; hướng dẫn cơ bản để phát triển học liệu dạy học tại địa phương
Chương trình giáo dục cấp địa phương/sở
chương trình nhà trường là sự phát triển chương trình quốc gia trên cơ sở căn cứ vào mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung dạy học… chung. Từ chương trình quốc gia, mỗi trường căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình sẽ đề xuất mục tiêu, sứ mạng và cách thực thi chương trình quốc gia riêng để đảm bảo chất lượng giáo dục của trường mình.
Chương trình giáo dục nhà trường
Phát triển chương trình GD nhà trường
Phát triển CTNT là quá trình cụ thể hóa, làm chương trình chung (quốc gia (QG) phù hợp với thực tiễn của địa phương trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của CTQG; lựa chọn, xây dựng nội dung (phần dành cho nhà trường xác định); và xác định cách thức thực hiện phản ánh đặc trưng và phù hợp với thực tiễn nhà trường, những yêu cầu, thành tựu hiện đại (về KHGD, công nghệ, …); nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển các phẩm chất, năng lực của người học, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.
Quan niệm về phát triển chương trình nhà trường
Kiểu hoạt động (tạo ra CT, tài liệu mới; làm thích nghi CT/ các tài liệu hiện có; lựa chọn từ các CT, các tài liệu sẵn có);
Những người tham gia xây dựng (nhóm nhỏ GV; toàn bộ nhà trường; …);
Thời gian thực hiện (chỉ 1 hoạt động một lần; kế hoạch ngắn hạn; kế hoạch dài hạn; …).
Các “chiều” của CTNT
Các ưu tiên QG (có thể liên quan tới yêu cầu phát triển KT – XH. Trong đó có thể có những vấn đề như yêu cầu về dân chủ hóa; yêu cầu tăng cường phân cấp; .... ).
Những thay đổi, bổ sung CTQG theo yêu cầu phát triển của nhà trường và địa phương.
Mong muốn đáp ứng/ thể hiện yêu cầu, nguồn lực, môi trường đặc trưng của địa phương.
Nhận thấy CT hiện tại chưa đáp ứng được (tốt) nhu cầu của tất cả/ một bộ phận HS.
Mong muốn phản ánh (tốt hơn) giá trị nhà trường hay cộng đồng/địa phương trong CT.
Những yêu cầu mới về đánh giá, chứng chỉ.
Các công nghệ mới, thành tựu mới về KHGD.
Các yếu tố “kích thích”, dẫn tới sự phát triển CTNT
Triết lí GD/ tầm nhìn của nhà trường;
KHGD của từng khối lớp theo năm;
Các chủ đề/ mạch ND/ yêu cầu cần đạt,
PP và hình thức tổ chức dạy học; đánh giá KQHT của HS
Các cấu phần của CTNT
Quy trình phát triển CTNT
Tổ chức chương trình giáo dục theo cấp học, năm học phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường trên cơ sở phân tích chương trình quốc gia, địa phương.
Xây dựng hoạch triển khai chương trình giáo dục từng cấp, lớp hàng năm và tổ chức thực hiện chương trình này.
Nghiên cứu hạ tầng giáo dục, hiện trạng tình hình kinh tế, xã hội khu vực, nhu cầu phụ huynh, năng lực học sinh, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên, các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục: cơ sở thực hành, thiết bị, phương tiện giáo dục, học liệu,…
Giám sát và đánh giá thường xuyên để điều chỉnh kịp thời.
Tổ chức đánh giá kết quả thực hiện, chất lượng giáo dục hàng năm, kiểm định chất lượng thực hiện chương trình theo các tiêu chuẩn, tiêu chí quốc gia, địa phương, nhà trường.
Hoạt động phát triển CTNT
1-Phân tích bối cảnh nhà trường THPT
2-Xác định mục tiêu của chương trình giáo dục PTTH
3-Thiết kế chuẩn đầu ra chương trình giáo dục PTTH
4-Thiết kế chương trình giáo dục PTTH
5-Thiết kế chương trình môn học PTTH
6-Thiết kế chuẩn đầu ra cho các môn học PTTH
7- Biên soạn kịch bản bài giảng PTTH
8 - Thẩm định chương trình giáo dục PTTH của trường THPT
9 - Triển khai chương trình giáo dục PTTH của trường THPT
10 -Đánh giá chương trình giáo dục PTTH của trường THPT
Các bước trong hoạt động phát triển CTNT:
Vai trò của các lực lượng tham gia vào quá trình phát triển CTGD nhà trường
là người quyết định chương trình giáo dục
là chủ thể trực tiếp giáo dục quyết định phương pháp giáo dục, dạy học, lựa chọn nội dung
Là người lập kế hoạch giáo dục, dạy học sát với thực tiễn, phản ánh truyền thống trường, nhu cầu địa phương, phụ huynh.
giáo viên không chỉ có vai trò quyết định sự thành công của chương trình, mà còn tự phát triển nghề nghiệp thường xuyên
Vai trò của giáo viên trong phát triển CNNT
Quản lí theo chuẩn: Quản lí chất lượng giáo dục nhà trường phải bám sát mục tiêu, chuẩn quốc gia, địa phương để trên cơ sở tiềm lực và điều kiện, mục tiêu riêng từng trường để xây dựng, qui chuẩn cụ thể một số nội dung quản lí hướng vào chất lượng. Quản lí chương trình nhà trường theo các nguyên tắc chính sau:
- Tuân thủ Luật Giáo dục, Điều lệ nhà trường
- Phản ánh đặc thù văn hóa, kinh tế, xã hội vùng miền.
- Dựa vào những nội dung, phạm vi, thời lượng mà chuẩn quốc gia dành cho cơ sở trường học để năng động, linh hoạt phù hợp trong việc xây dựng mục tiêu, sứ mạng chất lượng của trường và từ đó xây dựng chiến lược, kế hoạch và giải pháp bảo đảm chất lượng, xây dựng công cụ, phương pháp đánh giá chất lượng, điều chỉnh và phát triển, xây dựng đội ngũ
Quản lí chương trình nhà trường
Mô hình tổng quát quá trình giáo dục thể hiện ở sơ đồ sau:
Quản lí theo tiếp cận đảm bảo chất lượng
Kế hoạch hóa hoạt động phát triển chương trình giáo dục nhà trường.
Tổ chức thiện hiện kế hoạch.
Ra quyết định thực hiện, điều chỉnh thích ứng sự thay đổi hướng tới chất lượng giáo dục theo chuẩn quốc gia, địa phương.
Kiểm tra – đánh giá, xử lí thông tin phản hồi để điều chỉnh, hoàn thiện quá trình giáo dục.
Các chức năng cơ bản quản lí CTNT
Hình dung về văn bản Chương trình GD nhà trường
Ở một số nước CT nhà trường có thể ghi là “Sổ tay chương trình nhà trường”. Sổ tay chương trình nhà trường có thể có những yếu tố sau:
Tuyên bố về sứ mệnh, giới thiệu về nhà trường. Tuyên bố về kỳ vọng mà người HS khi tốt nghiệp trường có thể đạt được.
Giới thiệu về đặc điểm nhà trường (Cơ sở vật chất, thế mạnh, thương hiệu, đặc điểm…)
Xác định mục tiêu.
Khung chương trình và cấu trúc nội dung môn học.
Phương pháp, phương thức đánh giá kết quả giáo dục.
Kế hoạch giáo dục.
Thời khóa biểu.
 
GÓC THƯ GIÃN
Đề: Em hãy phân tích bài ca dao: "Trên đồng cạn,
dưới đồng sâu. Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa".
Đây là cảnh làm nông của một gia đình khá giả. Họ
có ít nhất ba thửa ruộng. Một thửa ruộng do chồng
cày, một thửa thì vợ đang cấy và một ruộng đang
bừa. Họ có ít nhất hai con trâu. Một con đi cày, một
con đi bừa. Đề: Tả chú thương binh. Gần nhà em có
một chú thương binh, chú đã bị thương 2 lần. Một
lần ở Buôn Mê Thuột và một lần ở đùi. Đề: Tả
con lợn. Em thích nhất con lợn trong chuồng nhà em.
Đầu nó to như cái gầu múc nước, mồm nó to bằng
cái bò đong gạo, mình nó to bằng người bố em, chân
nó to bằng khuỷu tay của anh em, đuôi nó dài như cái
thước kẻ của em. Mỗi lần mẹ em cho nó ăn nó lại
vẫy đuôi rối rít. Lúc nó ngủ trông nó thật đáng
yêu. Đề: Tả cây hoa hướng dương. Hôm nay em đi học
về nhặt được một hạt hướng dương. Em cho nó vào
chậu, sau nó mọc một cây như chiếc đũa. Em chăm bón
nó và nó nở một bông hoa như cái nắp ấm. Sau đó hoa
rụng hết cánh, em lấy hạt vào rang ăn Đề: Tả cây
bàng. Trước cửa nhà em có trồng một cây bàng. Mùa
bàng chín rụng đầy sân. Mẹ em nhặt bán lấy tiền
mua tivi và tủ lạnh. Đề: Đặt câu với vần iêu. Mẹ
em thích tiêu tiền. Đề: Phân tích tác phẩm "Mảnh
trăng cuối rừng". Nguyệt cởi quần áo bỏ trên bờ,
nhảy ùm xuống nước, bơi tung tăng như một con cá
vàng sang bờ bên kia. Đề: Tả chú bộ đội. Cạnh nhà
em có một chú là bộ đội. Năm nay chú đã 20 tuổi
đời. Chú luôn đeo súng ngắn bên mình, mỗi khi ngồi
xuống, khẩu súng của chú lại chìa ra trông rất oai
hùng. Đề: Đặt câu có từ "tập thể". Sáng nào em
cũng tập thể dục. Đề: Tả cô giáo. Cô giáo em trạc
ngoại tứ tuần. Người cô nhỏ nhắn khuôn mặt trái
xoan, mỗi khi cô giảng bài bàn tay cô ngo ngoe thật mềm
mại. Cô hay giảng bài về thời các cụ ngày xưa và
mở đầu bao giờ cũng là "các cụ ngày xưa nói". Đề:
Tả con lợn. Con lợn nhà em rất đẹp, có cái mũi to
như cái ổ phích cắm điện Liên Xô. Đề: Em hãy giải
thích câu tục ngữ "Giặc đến nhà, đàn bà cũng
đánh". Câu tục ngữ nói lên sự dã man của bọn giặc
cướp, khi đã tràn vào làng mạc, nhà cửa thì không
cứ đàn ông, mà cả đàn bà, trẻ em chúng cũng đánh
đập, hành hạ. Câu tục ngữ trên nhằm kêu gọi nhân
dân đánh đuổi quân giặc xâm lược. Đề: Tả về
cơn mưa rào. Chiều qua, trời đang nắng chang chang bỗng
nhiên sân nhà em đổ cơn mưa rào. Tiếng mưa rơi bập
bùng phập phồng nên bố em hát: "Trời mưa bong bóng
phập phồng. Em đi lấy chồng để khổ cho anh". Đề:
Tả về bác nông dân. Bên cạnh nhà em có một bác nông
dân tên là Xuyến. Bác có làn da trắng như trứng gà
bóc, mái tóc bác bóng mượt như dầu nhờn Castrol. Mỗi
buổi sáng bác thường hay dắt trâu ra ngoài đồng,
tiếng bước chân bác và chân trâu nghe rổn rảng.
Đề: Tả cây chuối. Trước cửa nhà em có một cây
chuối. Rễ của nó cắm sâu xuống lòng đất. Sáng nào
em cũng vun đất cho cây, trưa em vun đất cho cây, chiều
em cũng vun đất cho cây. Quả của nó sum suê, rụng cả
xuống đất. Đề: Tả con bò. Giữa trưa hè nóng nực,
em thấy con bò kéo xe trên phố, mồ hôi chảy ròng
ròng. Em học tập con bò tính cần cù chăm chỉ. Đề:
Tả cây bàng. Sân trường em có một cây bàng trồng
đã 3 năm cao 3 mét, nặng 2 kg, tán xoè như một cái ô.
Đề: Tả mái đình. Hôm nay cô giáo cho chúng em về
làng quê chơi, đầu làng có cái mái đình cong cong, khi
chúng em đến mái đình rung rinh chào đón chúng em.
Đề: Tả về người mẹ. Mẹ em rất dễ thương, mắt
mẹ em như hai hòn bi ve, mái tóc mẹ em đen nhánh, má
mẹ em mũm mĩm. Đề: Tả con đường đến trường. Nhà
em cách trường không xa, hàng ngày em đều đi trên con
đường nhỏ ấy. Những ngày nắng thì không sao nhưng
cứ đến mùa mưa thì nước ngập lên tận bẹn. Đề:
Tả vườn rau muống. Nhà em có một vườn rau muống.
Chiều chiều mẹ em lại bắc thang lên hái lá về nấu
canh. Đề: Tả con gà. Con gà nhà em mới nở trông đến
là xinh đẹp, cái đầu nó to như một nắm tay, còn
mình nó to như hai nắm tay. Đề: Tả một thắng cảnh.
Tuần trước, bố mẹ em cho em đi thăm rừng Cúc
Phương. Rừng Cúc Phương toàn là hoa cúc phương. Đề:
Tả con lợn. Nhà em có nuôi một con heo có bộ lông
vàng óng, hai tai to như hai lá mít, hai mắt to như hai
hạt điều, cái đầu to bằng trái dừa khô, và cái
bụng to bằng chiếc thùng gánh nước... Đề: Tả về
người bạn thân của em. Em có một người bạn rất
thân tên là Trung Hiếu. Mắt bạn đen như hai hột na. Da
bạn trắng như tuyết. Tóc bạn đen như gỗ mun. Môi
bạn đỏ như son. Hàng ngày, em với bạn thường rủ
nhau đi học. Đề: Em hãy phân tích câu tục ngữ "Uống
nước nhớ nguồn" Câu tục ngữ uống nước nhớ
nguồn cho ta thấy nước ta có nguồn nước rất dồi
dào. Nước rất quan trọng trong đời sống chúng ta:
cây cối cũng cần nước, ví dụ: đậu bắp, động
vật cũng cần nước, ví dụ: trâu, bò, gà, vịt...
Không có nước thì con người sẽ chết. Câu tục ngữ
uống nước nhớ nguồn làm em liên tưởng đến câu
tục ngữ "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" nghĩa là ăn
quả rồi phải nhớ giữ lại hạt để trồng cây
mới. Đề: Tả con gà. Nhà em có nuôi một con gà rất
to và đẹp, nó nặng chừng 10 kg, bụng to như cái
chậu, mỏ nó như hai hạt trấu chắp lại.... Đề: Tả
con voi. Chủ nhật tuần vừa rồi em được mẹ em cho
đi chơi công viên, ở đó có rất nhiều con vật nhưng
em thích nhất là con voi. Con voi có cái tai như cái
chổi, cái mồm như cái máy tính laptop của mẹ em.
Đề: Tả con gà trống. Mẹ đi chợ mua cho em một con
gà trống con. Em rất thích. Sau mấy tháng chăm nom chú
gà, bây giờ nhà em có thêm được 5 chú gà con. Đề:
Hãy đặt câu có từ "đỡ đần". Vì em chăm học nên
em đỡ đần. Đề: Tả cô giáo em. Cô giáo em cao 1m3,
dáng người to ngang trông rất vừa vặn... Mỗi khi
chúng em lên nộp bài, mắt cô sáng lên như 2 cái đèn
pin. Đề: Tả về con vật mà em yêu thích. Nhà em nuôi
một con mèo. Thân hình của nó to bằng cái chậu tắm
còn đôi tai nó lại chỉ nhỏ bằng cái móng tay của
em. Đề: Tả về gia đình em. Nhà em có 3 người, em thì
đi học, mẹ em thì làm ruộng, còn bố em làm bộ đội
ngoài đảo xa và bán điện thoại di động. Đề: Tả
con gà trống (của một học sinh thành phố). Nhà em có
một con gà trống. Trông nó rất đẹp. Toàn thân nó
phủ một màu vàng. Nó chẳng biết gáy cũng chẳng
biết làm gì. Miệng nó thường ngậm một bông hoa
hồng. Mẹ em thường đặt nó trên bàn thờ để thắp
hương cúng cụ. Đề: Đặt câu có từ Hán Việt. Cái
thủ của bạn Hương rất to. Đề: Hãy tả về một
người bạn thân của em. Em có cô bạn tên là Hương.
Bạn có mái tóc đen nhánh. Đôi mắt to, cái bụng của
bạn trắng hếu. Đề: Hãy tả một loại cây mà nhà em
trồng? Nhà em có trồng một cây chuối. Đến mùa
chuối ra quả. Cả buồng chuối dài 3 cm. Lúc quả chín
mẹ em chia cho hàng xóm, ăn mấy ngày không hết. Đề:
Tả về vật nuôi trong nhà em. Nhà em có một con mèo tam
thể rất đẹp. Nó tên là Miu Miu. Lông nó óng mượt.
Đôi mắt nó tròn to như 2 hòn bi. Mấy cái râu vểnh
lên vểnh xuống. Từ ngày có Miu Miu, chuột chạy hết
sang nhà hàng xóm. Em rất quý con mèo nhà em. Đề: Em
hãy tả về bà của mình. Nhà em có nuôi một bà nội
suốt ngày ngồi phẩy quạt nhưng ruồi không bay khỏi
miệng, mồm luôn dạy cháu phải sạch nhưng bà lại
lấy khăn lau bàn để lau ly uống nước. Đề: Tả con
trâu. Quê em nhà nhà làm nông nghiệp nên gia đình ai
cũng có một con trâu. Chú trâu nhà em rất khỏe mạnh
và chăm chỉ. Ngày ngày chú theo bố em ra đồng để
cày ruộng. Thân hình chú vạm vỡ, 2 chiếc ngà dương
lên oai hùng. Chân chú rất to và đen hơn chân bố em.
Đề: Tả con mèo. Nhà em có nuôi một chú mèo. Lông chú
trắng mượt rất xinh xắn. Đầu chú to đúng bằng
quả bóng nhựa 1.500 đồng mà mẹ mới mua cho em. Đề:
Tả về anh chị em của em. Ông anh trai nhà em rất con
trai và thông minh nữa, hẳn là vì anh có cái đầu to
như trái dừa khô và đôi mắt đen huyền óng ả. Đề:
Tả con gà. Nhà em có nuôi 1 con gà trống, chú ăn rất
khỏe lớn rất nhanh càng lớn chú càng giống gà mái.
Đề: Tả buổi đi chơi mà em tham gia. Chủ nhật vừa
qua cả nhà em được tổ chức đi Vũng Tàu. Mọi
người dậy từ rất sớm để tập hợp lên xe. Đi
được một quãng đường mọi người trên xe đều
ngủ chỉ trừ bác tài là còn thức vì bác đã uống
thuốc chống ngủ. Đề: Tả con trâu (của một học
sinh thành phố). Nhà em có nuôi một con trâu. Nó đáng
yêu lắm. Hàng ngày, mẹ xích nó ở góc hiên. Trên cổ
nó có đeo một cái nơ màu hồng thật xinh xắn. Nó ăn
rất ít cơm. Nó có khuôn mặt trái xoan thanh tú. Đề:
Tả một buổi học. Tùng tùng tùng, tiếng trống vang
lên báo hiệu đã đến giờ vào lớp. Không còn cảnh
nô nghịch, chạy nhảy nhốn nháo nữa. Các bạn, ai ai
vào vị trí của người đó. Sách vở để ngay ngắn
trên bàn. Cô giáo bước vào lớp. Học sinh đứng dậy
chào cô. Cô mặc chiếc áo dài hoa rất đẹp. Tóc cô
thẳng mượt thả đến ngang lưng. Cô đặt chiếc cặp
đen lên bàn và cất tiếng dịu dàng: "Hôm nay có ai
đóng tiền không?" Đề: Tả em bé. Ở bên nhà em có
một bé gái rất dễ thương, hai mắt em bé to tròn như
hai hột lạc sống, cái mũi em to như cái trống. Đề:
Tả con gà trống. Nhà em có con gà trống rất to, chân
dài. Hôm qua nó bị thiến rồi nên nó không đạp mái
được nữa. Đề: Tả một cái cây. Cái cây rất cao
và to, tán lá xum xuê, thân cây mười người ôm không
xuể. Cái cây cao 15 cen ti mét. Đề: Tả con lợn. Con
lợn nhà em. Cái mỏ nó nhọn. Cái đuôi nó cong. Cái
mào nó đỏ. Cái cựa nó sắc. Em rất yêu con lợn nhà
em. Đề: Tả ông nội. Ông nội em đẹp lão lắm, hai
mắt ông tròn xoe như hai hòn bi ve, râu ông dài và
mượt như chùm hoa bắp ngô, lúc nào đi ông cũng chống
gậy giống như hề Sác-lô. Đề: Tả bác công nhân. Tay
bác toàn dầu mỡ, trán thì lấm tấm mồ hôi, tai bác
như hai cái mộc nhĩ. Thỉnh thoảng bác hay ra bờ rào
vườn rau nhà em đi vệ sinh. Đề: Tả cô giáo em. Cô
giáo em mặt đỏ như mặt trời, chân đi xào xạc tựa
mây bay. Đề: Tả buổi chào cờ đầu tuần. Sáng thứ
hai tuần nào cũng vậy, trường em lại tổ chức chào
cờ. Đầu tiên là thầy hiệu phó phụ trách lao động
lên mắng mỏ một tí. Sau đó đến lượt thầy hiệu
trưởng lên mắng. Khi thầy hiệu trưởng mắng, cái
cục ở cổ thầy cứ chạy đi, chạy lại. Đề: Tả
cây hoa hồng. Những bông hồng xinh xinh như những con
cún con đậu trên cành. Đề: Tả cây bàng. Ở cạnh
nhà em cách một quán phở có một cây bàng. Cây bàng
đã sống trên 10 năm nên nó đã già và nó đã biến
thành cây đa. Đề: Em hãy tả một con vật mà em yêu
thích nhất. Nhà em có một con chim chích bông, nó nhỏ
và xinh, lông nó màu vàng óng, em thấy nó không ngừng
nhảy và mổ mồi. Em rất yêu con gà của ông em. Đề:
Tả em bé. Gần nhà em có một em bé rất dễ thương,
vì hay bị té nên đầu em bị móp. Đề: Đặt câu hỏi
với vần: ôm, ốp. Mẹ em tát em đôm đốp. Đề: Đặt
câu về phần gieo âm tiết. Có con trâu, bị ruồi bâu.
Có con chim, bị vỡ tim. Đề: Tả một con vật mà em
yêu nhất. Nhà em có nuôi một con gà trống rất đẹp,
em rất yêu nó. Hằng ngày, em cho nó ăn. Chiều chiều,
em dắt nó đi dạo mát 15 phút. Đề: Tả cái cặp đi
học. Bố em mua cho em cái cặp rất to và đẹp, hàng
ngày em đeo nó đến trường, cái cặp đựng được
nhiều sách vở, nó to như cái bình thuốc sâu của mẹ
vậy! Đề: Tả về ông bà nội. Khi em được sinh ra
thì bố mẹ em đã làm ma cho ông bà nội em rồi. Đề:
Tả về cô giáo mà em yêu quý. Cô giáo em rất đẹp.
Cô có vầng trán cao thể hiện sự thông minh. Mái tóc
cô dài thướt tha như dòng nước. Nhưng em thích nhất
vẫn là cái răng nanh của cô, nó làm cho nụ cười
của cô thêm phần quyến rũ. Cô còn hay đọc tập làm
văn cho tụi em chép nữa. Đề: Tả người thầy em yêu
quý nhất. Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo
phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả
bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em
đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần,
đến khi nhỏ bằng con chó em mới quay lại bản. Đề:
Tả anh bộ đội. Anh bộ đội cao khoảng 1,20 m, súng AK
dài 1m rưỡi. ề: Tả ông nội. Nhà em có nuôi một ông
nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm
chăn ngủ, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi: Cơm chín
chưa bây? Đề: Tả một dụng cụ lao động. Chiếc
xẻng nhà em có rất nhiều công dụng, để hốt rác,
và còn dùng để xúc cứt chó nữa. Đề: Miêu tả về
bố. Bố em có một hàm răng vàng, hàm răng vàng luôn
chỉ bảo em những điều hay lẽ phải. Đề: Em hãy
miêu tả mùa Xuân. Mùa xuân ở quê em mở rất nhiều
hội. Những ngày ấy trên đường có rất nhiều các
ông các bà tay cầm ô đen ô đỏ đứng nói chuyện râm
ran như bầy chim líu lo gọi mẹ. Đề: Tả cây chuối.
Nhà em có cây chuối rất to, chiều nào em cũng leo lên
cây chuối ngồi hóng mát. Khi em leo lên, cành chuối rung
rinh. Đề: Tả con gà. Nhà em có nuôi một con gà trống,
mắt nó tròn như 2 hòn bi ve, đầu nó to như cái đũa
cả, mào nó to và bị lệch giống như tai lợn vậy.
Đề: Tả dòng sông. Gần nhà em có một con sông rất
nên thơ. Sông uốn lượn như một khúc gỗ. Đề: Tả
con lợn. Con lợn nhà em nuôi được 3 năm rồi nên
trông nó phổng phao lắm. Đầu nó to bằng quả bóng.
Thân nó to bằng cái phích nước sôi nhà em. Cái mũi
thì trông như cái ổ cắm điện. Em rất yêu quý con
lợn nhà em. Quả thật, lợn vừa là bạn vừa là thầy
của em. Đề: Tả bà nội. Bà nội em rất già, da bà
nhăn nheo, bà đã rụng hết răng. Món ăn vặt yêu thích
nhất của bà là ngô rang. Đề: Tả cây hoa. Trước
cửa nhà em có trồng một cây hoa hồng. Buổi sáng, hoa
nở chào đón ánh nắng mặt trời. Buổi chiều, hoa
cụp lại sau một ngày làm việc mệt nhọc. Đề: Tả
một bạn học sinh giỏi ở lớp. Lớp em có một bạn
tên là Mai, bạn học rất giỏi. Bạn có thân hình
mảnh khảnh, da trắng như tuyết. Mũi bạn hơi hếch
về phía trước để sẵn sàng đón những luồng gió
nam lồng lộng thổi. Đi đâu, bạn cũng phải hơi cúi
mình để tránh những giọt nước mưa rơi tọt vào
trong bụng... Đề: Em hãy tả anh bộ đội. Ở gần nhà
em có một anh bộ đội. Anh có nước da giống màu bộ
bàn ghế nhà em, mái tóc nhọn hoắt cong như hình lưỡi
liềm. Đề: Trong các tác phẩm em đã học và đọc
thêm, em thích tác phẩm nào nhất ? Vì sao? Hãy chứng
minh? Trong kho tàng văn học VN, ca dao dân ca rất giàu
tình nghĩa.... Trong các tác phẩm đó em thích nhất là
tác phẩm "Tắt đèn" của chị Dậu. Vì nó đã thể
hiện tinh thần chống lại sự bóc lột phụ nữ của
chế độ phong kiến. Chứng tỏ chị đã bán con và chó
để thể hiện tinh thần kiên quyết đó... Đề: Tả
bà em. Hình dáng của bà nội rất là thấp, được hai
mét rưỡi, dáng đi rất chậm chạp, mắt thì lừ đừ
ít thấy gì nữa. Tính tình bà rất là bực bội. Khi
cười miệng bà em móm mém như miệng cái hố. Đề:
Tả quang cảnh sân trường. Mới tờ mờ sáng đã
nghe tiếng thầy dõng dạc hô: "Lượm rác nào".
Đề: Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, nhân
vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn
tấm ảnh do mình chụp thường nhìn thấy những hình
ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì? Tuy em
chưa đọc bài văn Nhưng em xin đoán thế này đúng
không Nhân vật nghệ sĩ là chồng Chắc ngắm ảnh vợ
trong phòng ông ta Nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa”
Chỗ người vợ đứng chắc là thuyền kia Có thể tàu
đắm chia lìa Chồng thì sống sót vợ về cõi âm
Người chồng nghệ sĩ âm thầm Ngồi ngắm ảnh vợ,
tay cầm khăn lau Vừa than, vừa khóc, lòng đau Hiện lên
hình ảnh yêu nhau thuở nào Hình ảnh hiện đến cao
trào... Em xin ngừng kể không là em “die” Thầy cô
vất vả chấm thi Xin thầy cô chấm nhẹ bài của em
Viết vui cho thầy cô xem Câu này em bỏ, xin không chấm
vào. 27. Đề: Tả anh bộ đội. Gần nhà em có một anh
bộ đội, anh bơi rất giỏi, anh có thể bơi lập lờ
trên mặt nước, trông xa cứ như người chết đuối.
Đề: Tả con gà trống. Bà nội em có nuôi một con gà
trống. Chú gà rất lực lưỡng như lực sĩ đấu vật.
Bộ lông nhiều màu bóng mượt. Cái mào đỏ chót đầy
kiêu hãnh. Chân chú gà đã có cựa rắn chắc và khỏe
mạnh. Sáng sáng, chú trống dẫn đàn gà con đi tìm
mồi. Đề: Em hãy điền dấu phẩy vào đúng chỗ "gia
đình hai con vợ chồng hạnh phúc". Gia đình hai con vợ,
chồng hạnh phúc. Đề: Tả về một người gương mẫu
ở nơi em sinh sống. Làng em có một bác gương mẫu
nhất làng, bác ấy là bác truởng thôn. Em nghe mẹ nói
bác ấy ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng nhưng em thấy
ngày nào bác ấy cũng vác loa để thông báo mọi việc
cho xóm làng. Đề: Tả người bà mà em yêu quý. Bà em
thường bịt trên đầu một chiếc khăn nhung, bên
dưới chiếc khăn thò ra hai cái tai vừa to vừa dài.






Các ý kiến mới nhất