Chào mừng quý vị đến với website của Nhà Giáo Đỗ Văn Bình - GV trường THPT Liễn Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc - "KẾT NỐI TƯ DUY, CHIA SẺ KINH NGHIỆM, HOÀN THIỆN BẢN THÂN, TỐT HÓA CÔNG VIỆC, CUỘC SỐNG VÀ XÃ HỘI"
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
TÀI LIỆU PPT 23

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:45' 20-08-2014
Dung lượng: 101.5 KB
Số lượt tải: 24
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:45' 20-08-2014
Dung lượng: 101.5 KB
Số lượt tải: 24
Số lượt thích:
0 người
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1
XDCT theo hướng phát triển năng lực
Tiếp cận nội dung và tiếp cận kết quả đầu ra
Xây dựng chương trình theo hướng phát triển và đánh giá năng lực
Bản chất và lí do chuyển sang cách tiếp cận năng lực
Khái niệm năng lực và phân loại hệ thống năng lực
Xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận năng lực
Báo cáo chính thức PISA
1. Tiếp cận nội dung và tiếp cận kết quả đầu ra
Khi so sánh quốc tế về thiết kế CTGD, người ta thường nêu lên hai cách tiếp cận chính:
Thứ nhất là tiếp cận dựa vào nội dung hoặc chủ đề (tiếp cận nội dung)
Thứ hai là tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra (tiếp cận kết quả đầu ra).
3
1.1. Tiếp cận nội dung
Là cách nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh vực/môn học nào đó. Cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinh (HS) cần biết cái gì ?.
Cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào yêu cầu nội dung học vấn của một khoa học bộ môn nên thường mang tính “hàn lâm”, nặng về lý thuyết và tính hệ thống, nhất là khi người thiết kế ít chú đến tiềm năng, các giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học.
4
1.2. Tiếp cận kết quả đầu ra
Là cách tiếp cận nêu rõ kết quả- những khả năng hoặc kĩ năng mà HS mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể”. Cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn HS biết và có thể làm được những gì?
5
XU HƯỚNG QUỐC TẾ
Theo cách 1 (tiếp cận nội dung)
Theo cách 2 (tiếp cận năng lực)
Theo cách 3 (kết hợp 1 và 2)
Xu hướng chung trong việc thiết kế CTGD của các nước là kết hợp cả hai. Ví dụ Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Maliaxia, Philippine và Hoa Kỳ khi thiết kế CT đều sử dụng kết hợp hai cách tiếp cận này một cách đa dạng. Các nước Úc, Niu- Zi-lân, và Thái Lan chủ yếu sử dụng cách tiếp cận đầu ra, trong khi đó Cộng hòa Phi-zi, In-đô-nê-sia và Việt Nam chủ yếu lại sử dụng cách tiếp cận nội dung. Ấn Độ, Sri-lan-ca đang chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang cách tiếp cận đầu ra. Như thế có thêm cách tiếp cận thứ 3 là cách kết hợp giữa 1và 2. Hàn Quốc kết hợp cả 1; 2 và 3.
2. Phát triển CT theo hướng tiếp cận năng lực
2.1. Bản chất và lí do chuyển sang cách tiếp cận năng lực
CT tiếp cận năng lực thực chất là cách tiếp cận kết quả đầu ra. Tuy nhiên, có rất nhiều dạng “kết quả đầu ra”; đầu ra của cách tiếp cận này tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học.
CT tiếp cận theo hướng này chủ trương giúp HS không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác phải gắn với thực tiễn đời sống. CT truyền thống chủ yếu yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Biết cái gì? CT tiếp cận theo năng lực luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết?
7
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
2.2. KN năng lực và phân loại hệ thống năng lực
Năng lực là một trạng thái hoặc một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể.
Nói đến NL là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết gì.
(i) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó và (ii) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Mỗi NL được trình bày với ba nội dung:
Đặc điểm của năng lực; Kết quả cần đạt về năng lực; Tiêu chí đánh giá năng lực này.
8
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Có thể dẫn ra một số cách hiểu về khái niệm năng lực trong CT, chẳng hạn:
Là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác. Hoặc:
Là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở 1 người khi thực hiện 1 công việc; bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức, kĩ năng và hành vi ứng xử trong thực hành.
9
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
NL chung và NL cụ thể, chuyên biệt
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội.
Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Vì thế có nước gọi là năng lực xuyên chương trình. Mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có gía trị cho xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người.
10
Năng lực chung
Số lượng NL do mỗi nước đề xuất cũng khác nhau: có nước nêu 10 NL ( Úc); có nước nêu 9 NL (Canada- CT Québec), có nước nêu 8 NL (Tây Ban Nha, Singapore); có nước nêu 7 NL ( Pháp) ; có nước nêu 6 NL ( Anh, Scotlen); có nước nêu 5 NL (Niu Zi-lân); Nam Phi nêu 4 NL… Tên gọi của các lực ở nhiều nước cũng rất khác nhau.
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Ví dụ về năng lực chung
Có 8 năng lực sau đây được khá nhiều nước đề xuất/lựa chọn:
Tư duy phê phán, tư duy logic
Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ
Tính toán , ứng dụng số
Đọc- viết ( literacy)
Làm việc nhóm - quan hệ với người khác
Công nghệ thông tin- truyền thông ( ICT)
Sáng tạo, tự chủ
Giải quyết vấn đề
12
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Các nước khối EU nêu 8 lĩnh vực NL chính:
Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ
Giao tiếp bằng tiếng nước ngoài
Công nghệ thông tin và truyền thông
Tính toán và năng lực toán, khoa học, công nghệ
Doanh nghiệp, kinh doanh (entrepreneurship )
Năng lực liên cá nhân và năng lực công dân
Hiểu biết về học (learning to learn)
Văn hoá chung
www.themegallery.com
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Đề xuất năng lực chung với Chương trình GDPT mới:
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân
Năng lực tự học
Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực tư duy
Năng lực tự quản lý
Nhóm năng lực về quan hệ xã hội
Năng lực giao tiếp
Năng lực hợp tác
Nhóm năng lực công cụ
Năng lực sử dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT)
Năng lực sử dụng ngôn ngữ
Năng lực tính toán
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó (xác định trong CT các môn học/ hoạt động giáo dục)
Chẳng hạn CT của New Zealand, Môn Toán đảm nhiệm 3 năng lực:
a) Giải quyết một tình huống có vấn đề;
b) Sử dụng được lập luận toán học;
c) Giao tiếp bằng việc sử dụng ngôn ngữ toán.
15
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Mỗi năng lực cần phải nêu rõ nội dung:
* Năng lực tư duy được mô tả: “Năng lực tư duy được xem là trình độ vận dụng hoạt động trí tuệ, nó rất đa dạng trong việc sử dụng thông tin để đạt kết quả. Năng lực tư duy bao gồm các yếu tố như giải quyết vấn đề, ra những quyết định, tư duy phê phán, phát triển lập luận và sử dụng các chứng cớ chứng minh cho lập luận của mình. Năng lực tư duy là cốt lõi của nhiều hoạt động trí tuệ.”
* Năng lực Quan hệ với người khác được mô tả: “Năng lực quan hệ với người khác là sự tương tác có hiệu quả với nhiều kiểu đối tượng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Năng lực này bao gồm khả năng nghe chăm chú, nhận biết được các quan điểm khác nhau, thương lượng và chia sẻ tư tưởng”.
16
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
2.3. Xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận năng lực
a) Đặc điểm bao trùm của CT được XD theo hướng này là việc thực sự chú ý, quan tâm đến tiềm năng, hứng thú và điều kiện của người học; chú ý nhận biết và phát triển đầy đủ tiềm năng của họ. CT nhấn mạnh việc chuyển đổi từ học cái gì đến HS có thể học và làm được những gì phù hợp.
17
b) Cải cách GD ở Indonesia, CT có các đặc điểm:
a) Nhấn mạnh vào khả năng của HS
b) Hướng vào kết quả học tập (KQ đầu ra) và tính đa dạng
c) Sử dụng cách tiếp cận và phương pháp làm thay đổi kiến thức
d) Nguồn tri thức không chỉ ở GV mà còn thu được từ nhiều nguồn tri thức khác đáp ứng được những nguyên lý GD cơ bản
e) Nhấn mạnh vào PP đánh giá và KQHT trong sự nỗ lực điều chỉnh hoặc đạt được của năng lực
www.themegallery.com
GIỚI THIỆU MỘT SỐ KHUNG ĐG QUỐC TẾ
1) Khung đánh giá nhận thức của B.Bloom
B.Bloom phân mục tiêu GD thành 6 cấp độ về nhận thức, 5 cấp độ về kỹ năng và 5 cấp độ về tình cảm - thái độ.
Khung ĐG của Bloom chú trọng đo các mức độ đạt được mục tiêu GD ở khả năng nhận thức của HS.
Khung ĐG về nhận thức gồm 6 cấp độ:
Biết; Hiểu; Áp dụng;
Phân tích; Tổng hợp; Đánh giá.
19
IV. KHUNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
Khung đánh giá và Thang đo
2) Khung ĐG các cấp độ tư duy (Thinking levels)
Khung ĐG chú trọng đến các cấp độ tư duy của HS và phát huy khả năng sáng tạo của HS.
Khung ĐG Thinking Levels có 4 cấp độ: Nhận biết; Thông hiểu; Vận dụng cấp độ thấp; Vận dụng cấp độ cao
VN đang vận dụng trong đánh giá HS
20
Khung đánh giá và Thang đo
3) Khung ĐG theo Stiggins
ĐG KQHT của HS dựa theo 4 nhóm mục tiêu:
Nắm vững kiến thức
Trình độ suy luận
Kỹ năng thực hành
Năng lực tạo sản phẩm
ĐG KQHT của HS là ĐG mức độ đạt được các mục tiêu học tập cụ thể trên.
21
Khung đánh giá và Thang đo
4) Khung đánh giá của PISA
Khung ĐG PISA chú trọng đến khả năng vận dụng kiến thức đã học vào xử lý, giải quyết các tình huống thực tiễn (chính là đánh giá năng lực).
Khung ĐG PISA gồm 3 cấp độ
- Nhận biết/ Thu thập thông tin
- Kết nối và tích hợp/ Phân tích, lý giải
- Phản hồi và đánh giá
Giới thiệu khung ĐG PISA -Word
22
V. THIẾT KẾ MA TRẬN ĐỀ THI
1. Xác định Khung đánh giá năng lực
(Để thiết kế ma trận và xây dựng đề thi)
Mỗi chuẩn kiến thức, kĩ năng ở các chủ đề đã liệt kê trên thuộc một trong ba mức độ nhận thức: Biết, Hiểu, Vận dụng (thấp, cao) - Thinking levels
2. Thiết kế Ma trận đề hai chiều:
- Một chiều các mức độ nhận thức
- Một chiều các nội dung, mạch kiến thức
3. Xác định Thang ĐG năng lực
(Để đánh giá năng lực học sinh)
4. Phân biệt Khung và Thang ĐGNL
Thiết kế ma trận đề thi
3. Khung ma trận (Đề lớp 9 xem ở Word)
Mỗi ô trong khung ma trận nêu:
Chuẩn cần đánh giá;
Hình thức các câu hỏi;
Số lượng câu hỏi;
Số điểm dành cho các câu hỏi.
4. Khung ma trận câu hỏi (Xem ở Word)
Mỗi ô trong khung ma trận câu hỏi nêu:
Hình thức các câu hỏi;
Số thứ tự của câu hỏi trong đề;
Số điểm dành cho các câu hỏi.
www.themegallery.com
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1
XDCT theo hướng phát triển năng lực
Tiếp cận nội dung và tiếp cận kết quả đầu ra
Xây dựng chương trình theo hướng phát triển và đánh giá năng lực
Bản chất và lí do chuyển sang cách tiếp cận năng lực
Khái niệm năng lực và phân loại hệ thống năng lực
Xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận năng lực
Báo cáo chính thức PISA
1. Tiếp cận nội dung và tiếp cận kết quả đầu ra
Khi so sánh quốc tế về thiết kế CTGD, người ta thường nêu lên hai cách tiếp cận chính:
Thứ nhất là tiếp cận dựa vào nội dung hoặc chủ đề (tiếp cận nội dung)
Thứ hai là tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra (tiếp cận kết quả đầu ra).
3
1.1. Tiếp cận nội dung
Là cách nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh vực/môn học nào đó. Cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinh (HS) cần biết cái gì ?.
Cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào yêu cầu nội dung học vấn của một khoa học bộ môn nên thường mang tính “hàn lâm”, nặng về lý thuyết và tính hệ thống, nhất là khi người thiết kế ít chú đến tiềm năng, các giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học.
4
1.2. Tiếp cận kết quả đầu ra
Là cách tiếp cận nêu rõ kết quả- những khả năng hoặc kĩ năng mà HS mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể”. Cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn HS biết và có thể làm được những gì?
5
XU HƯỚNG QUỐC TẾ
Theo cách 1 (tiếp cận nội dung)
Theo cách 2 (tiếp cận năng lực)
Theo cách 3 (kết hợp 1 và 2)
Xu hướng chung trong việc thiết kế CTGD của các nước là kết hợp cả hai. Ví dụ Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Maliaxia, Philippine và Hoa Kỳ khi thiết kế CT đều sử dụng kết hợp hai cách tiếp cận này một cách đa dạng. Các nước Úc, Niu- Zi-lân, và Thái Lan chủ yếu sử dụng cách tiếp cận đầu ra, trong khi đó Cộng hòa Phi-zi, In-đô-nê-sia và Việt Nam chủ yếu lại sử dụng cách tiếp cận nội dung. Ấn Độ, Sri-lan-ca đang chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang cách tiếp cận đầu ra. Như thế có thêm cách tiếp cận thứ 3 là cách kết hợp giữa 1và 2. Hàn Quốc kết hợp cả 1; 2 và 3.
2. Phát triển CT theo hướng tiếp cận năng lực
2.1. Bản chất và lí do chuyển sang cách tiếp cận năng lực
CT tiếp cận năng lực thực chất là cách tiếp cận kết quả đầu ra. Tuy nhiên, có rất nhiều dạng “kết quả đầu ra”; đầu ra của cách tiếp cận này tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học.
CT tiếp cận theo hướng này chủ trương giúp HS không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác phải gắn với thực tiễn đời sống. CT truyền thống chủ yếu yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Biết cái gì? CT tiếp cận theo năng lực luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết?
7
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
2.2. KN năng lực và phân loại hệ thống năng lực
Năng lực là một trạng thái hoặc một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể.
Nói đến NL là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết gì.
(i) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó và (ii) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Mỗi NL được trình bày với ba nội dung:
Đặc điểm của năng lực; Kết quả cần đạt về năng lực; Tiêu chí đánh giá năng lực này.
8
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Có thể dẫn ra một số cách hiểu về khái niệm năng lực trong CT, chẳng hạn:
Là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác. Hoặc:
Là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở 1 người khi thực hiện 1 công việc; bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức, kĩ năng và hành vi ứng xử trong thực hành.
9
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
NL chung và NL cụ thể, chuyên biệt
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội.
Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Vì thế có nước gọi là năng lực xuyên chương trình. Mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có gía trị cho xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người.
10
Năng lực chung
Số lượng NL do mỗi nước đề xuất cũng khác nhau: có nước nêu 10 NL ( Úc); có nước nêu 9 NL (Canada- CT Québec), có nước nêu 8 NL (Tây Ban Nha, Singapore); có nước nêu 7 NL ( Pháp) ; có nước nêu 6 NL ( Anh, Scotlen); có nước nêu 5 NL (Niu Zi-lân); Nam Phi nêu 4 NL… Tên gọi của các lực ở nhiều nước cũng rất khác nhau.
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Ví dụ về năng lực chung
Có 8 năng lực sau đây được khá nhiều nước đề xuất/lựa chọn:
Tư duy phê phán, tư duy logic
Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ
Tính toán , ứng dụng số
Đọc- viết ( literacy)
Làm việc nhóm - quan hệ với người khác
Công nghệ thông tin- truyền thông ( ICT)
Sáng tạo, tự chủ
Giải quyết vấn đề
12
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Các nước khối EU nêu 8 lĩnh vực NL chính:
Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ
Giao tiếp bằng tiếng nước ngoài
Công nghệ thông tin và truyền thông
Tính toán và năng lực toán, khoa học, công nghệ
Doanh nghiệp, kinh doanh (entrepreneurship )
Năng lực liên cá nhân và năng lực công dân
Hiểu biết về học (learning to learn)
Văn hoá chung
www.themegallery.com
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Đề xuất năng lực chung với Chương trình GDPT mới:
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân
Năng lực tự học
Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực tư duy
Năng lực tự quản lý
Nhóm năng lực về quan hệ xã hội
Năng lực giao tiếp
Năng lực hợp tác
Nhóm năng lực công cụ
Năng lực sử dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT)
Năng lực sử dụng ngôn ngữ
Năng lực tính toán
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó (xác định trong CT các môn học/ hoạt động giáo dục)
Chẳng hạn CT của New Zealand, Môn Toán đảm nhiệm 3 năng lực:
a) Giải quyết một tình huống có vấn đề;
b) Sử dụng được lập luận toán học;
c) Giao tiếp bằng việc sử dụng ngôn ngữ toán.
15
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Mỗi năng lực cần phải nêu rõ nội dung:
* Năng lực tư duy được mô tả: “Năng lực tư duy được xem là trình độ vận dụng hoạt động trí tuệ, nó rất đa dạng trong việc sử dụng thông tin để đạt kết quả. Năng lực tư duy bao gồm các yếu tố như giải quyết vấn đề, ra những quyết định, tư duy phê phán, phát triển lập luận và sử dụng các chứng cớ chứng minh cho lập luận của mình. Năng lực tư duy là cốt lõi của nhiều hoạt động trí tuệ.”
* Năng lực Quan hệ với người khác được mô tả: “Năng lực quan hệ với người khác là sự tương tác có hiệu quả với nhiều kiểu đối tượng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Năng lực này bao gồm khả năng nghe chăm chú, nhận biết được các quan điểm khác nhau, thương lượng và chia sẻ tư tưởng”.
16
TIẾP CẬN NĂNG LỰC
2.3. Xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận năng lực
a) Đặc điểm bao trùm của CT được XD theo hướng này là việc thực sự chú ý, quan tâm đến tiềm năng, hứng thú và điều kiện của người học; chú ý nhận biết và phát triển đầy đủ tiềm năng của họ. CT nhấn mạnh việc chuyển đổi từ học cái gì đến HS có thể học và làm được những gì phù hợp.
17
b) Cải cách GD ở Indonesia, CT có các đặc điểm:
a) Nhấn mạnh vào khả năng của HS
b) Hướng vào kết quả học tập (KQ đầu ra) và tính đa dạng
c) Sử dụng cách tiếp cận và phương pháp làm thay đổi kiến thức
d) Nguồn tri thức không chỉ ở GV mà còn thu được từ nhiều nguồn tri thức khác đáp ứng được những nguyên lý GD cơ bản
e) Nhấn mạnh vào PP đánh giá và KQHT trong sự nỗ lực điều chỉnh hoặc đạt được của năng lực
www.themegallery.com
GIỚI THIỆU MỘT SỐ KHUNG ĐG QUỐC TẾ
1) Khung đánh giá nhận thức của B.Bloom
B.Bloom phân mục tiêu GD thành 6 cấp độ về nhận thức, 5 cấp độ về kỹ năng và 5 cấp độ về tình cảm - thái độ.
Khung ĐG của Bloom chú trọng đo các mức độ đạt được mục tiêu GD ở khả năng nhận thức của HS.
Khung ĐG về nhận thức gồm 6 cấp độ:
Biết; Hiểu; Áp dụng;
Phân tích; Tổng hợp; Đánh giá.
19
IV. KHUNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
Khung đánh giá và Thang đo
2) Khung ĐG các cấp độ tư duy (Thinking levels)
Khung ĐG chú trọng đến các cấp độ tư duy của HS và phát huy khả năng sáng tạo của HS.
Khung ĐG Thinking Levels có 4 cấp độ: Nhận biết; Thông hiểu; Vận dụng cấp độ thấp; Vận dụng cấp độ cao
VN đang vận dụng trong đánh giá HS
20
Khung đánh giá và Thang đo
3) Khung ĐG theo Stiggins
ĐG KQHT của HS dựa theo 4 nhóm mục tiêu:
Nắm vững kiến thức
Trình độ suy luận
Kỹ năng thực hành
Năng lực tạo sản phẩm
ĐG KQHT của HS là ĐG mức độ đạt được các mục tiêu học tập cụ thể trên.
21
Khung đánh giá và Thang đo
4) Khung đánh giá của PISA
Khung ĐG PISA chú trọng đến khả năng vận dụng kiến thức đã học vào xử lý, giải quyết các tình huống thực tiễn (chính là đánh giá năng lực).
Khung ĐG PISA gồm 3 cấp độ
- Nhận biết/ Thu thập thông tin
- Kết nối và tích hợp/ Phân tích, lý giải
- Phản hồi và đánh giá
Giới thiệu khung ĐG PISA -Word
22
V. THIẾT KẾ MA TRẬN ĐỀ THI
1. Xác định Khung đánh giá năng lực
(Để thiết kế ma trận và xây dựng đề thi)
Mỗi chuẩn kiến thức, kĩ năng ở các chủ đề đã liệt kê trên thuộc một trong ba mức độ nhận thức: Biết, Hiểu, Vận dụng (thấp, cao) - Thinking levels
2. Thiết kế Ma trận đề hai chiều:
- Một chiều các mức độ nhận thức
- Một chiều các nội dung, mạch kiến thức
3. Xác định Thang ĐG năng lực
(Để đánh giá năng lực học sinh)
4. Phân biệt Khung và Thang ĐGNL
Thiết kế ma trận đề thi
3. Khung ma trận (Đề lớp 9 xem ở Word)
Mỗi ô trong khung ma trận nêu:
Chuẩn cần đánh giá;
Hình thức các câu hỏi;
Số lượng câu hỏi;
Số điểm dành cho các câu hỏi.
4. Khung ma trận câu hỏi (Xem ở Word)
Mỗi ô trong khung ma trận câu hỏi nêu:
Hình thức các câu hỏi;
Số thứ tự của câu hỏi trong đề;
Số điểm dành cho các câu hỏi.
www.themegallery.com
 
GÓC THƯ GIÃN
Đề: Em hãy phân tích bài ca dao: "Trên đồng cạn,
dưới đồng sâu. Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa".
Đây là cảnh làm nông của một gia đình khá giả. Họ
có ít nhất ba thửa ruộng. Một thửa ruộng do chồng
cày, một thửa thì vợ đang cấy và một ruộng đang
bừa. Họ có ít nhất hai con trâu. Một con đi cày, một
con đi bừa. Đề: Tả chú thương binh. Gần nhà em có
một chú thương binh, chú đã bị thương 2 lần. Một
lần ở Buôn Mê Thuột và một lần ở đùi. Đề: Tả
con lợn. Em thích nhất con lợn trong chuồng nhà em.
Đầu nó to như cái gầu múc nước, mồm nó to bằng
cái bò đong gạo, mình nó to bằng người bố em, chân
nó to bằng khuỷu tay của anh em, đuôi nó dài như cái
thước kẻ của em. Mỗi lần mẹ em cho nó ăn nó lại
vẫy đuôi rối rít. Lúc nó ngủ trông nó thật đáng
yêu. Đề: Tả cây hoa hướng dương. Hôm nay em đi học
về nhặt được một hạt hướng dương. Em cho nó vào
chậu, sau nó mọc một cây như chiếc đũa. Em chăm bón
nó và nó nở một bông hoa như cái nắp ấm. Sau đó hoa
rụng hết cánh, em lấy hạt vào rang ăn Đề: Tả cây
bàng. Trước cửa nhà em có trồng một cây bàng. Mùa
bàng chín rụng đầy sân. Mẹ em nhặt bán lấy tiền
mua tivi và tủ lạnh. Đề: Đặt câu với vần iêu. Mẹ
em thích tiêu tiền. Đề: Phân tích tác phẩm "Mảnh
trăng cuối rừng". Nguyệt cởi quần áo bỏ trên bờ,
nhảy ùm xuống nước, bơi tung tăng như một con cá
vàng sang bờ bên kia. Đề: Tả chú bộ đội. Cạnh nhà
em có một chú là bộ đội. Năm nay chú đã 20 tuổi
đời. Chú luôn đeo súng ngắn bên mình, mỗi khi ngồi
xuống, khẩu súng của chú lại chìa ra trông rất oai
hùng. Đề: Đặt câu có từ "tập thể". Sáng nào em
cũng tập thể dục. Đề: Tả cô giáo. Cô giáo em trạc
ngoại tứ tuần. Người cô nhỏ nhắn khuôn mặt trái
xoan, mỗi khi cô giảng bài bàn tay cô ngo ngoe thật mềm
mại. Cô hay giảng bài về thời các cụ ngày xưa và
mở đầu bao giờ cũng là "các cụ ngày xưa nói". Đề:
Tả con lợn. Con lợn nhà em rất đẹp, có cái mũi to
như cái ổ phích cắm điện Liên Xô. Đề: Em hãy giải
thích câu tục ngữ "Giặc đến nhà, đàn bà cũng
đánh". Câu tục ngữ nói lên sự dã man của bọn giặc
cướp, khi đã tràn vào làng mạc, nhà cửa thì không
cứ đàn ông, mà cả đàn bà, trẻ em chúng cũng đánh
đập, hành hạ. Câu tục ngữ trên nhằm kêu gọi nhân
dân đánh đuổi quân giặc xâm lược. Đề: Tả về
cơn mưa rào. Chiều qua, trời đang nắng chang chang bỗng
nhiên sân nhà em đổ cơn mưa rào. Tiếng mưa rơi bập
bùng phập phồng nên bố em hát: "Trời mưa bong bóng
phập phồng. Em đi lấy chồng để khổ cho anh". Đề:
Tả về bác nông dân. Bên cạnh nhà em có một bác nông
dân tên là Xuyến. Bác có làn da trắng như trứng gà
bóc, mái tóc bác bóng mượt như dầu nhờn Castrol. Mỗi
buổi sáng bác thường hay dắt trâu ra ngoài đồng,
tiếng bước chân bác và chân trâu nghe rổn rảng.
Đề: Tả cây chuối. Trước cửa nhà em có một cây
chuối. Rễ của nó cắm sâu xuống lòng đất. Sáng nào
em cũng vun đất cho cây, trưa em vun đất cho cây, chiều
em cũng vun đất cho cây. Quả của nó sum suê, rụng cả
xuống đất. Đề: Tả con bò. Giữa trưa hè nóng nực,
em thấy con bò kéo xe trên phố, mồ hôi chảy ròng
ròng. Em học tập con bò tính cần cù chăm chỉ. Đề:
Tả cây bàng. Sân trường em có một cây bàng trồng
đã 3 năm cao 3 mét, nặng 2 kg, tán xoè như một cái ô.
Đề: Tả mái đình. Hôm nay cô giáo cho chúng em về
làng quê chơi, đầu làng có cái mái đình cong cong, khi
chúng em đến mái đình rung rinh chào đón chúng em.
Đề: Tả về người mẹ. Mẹ em rất dễ thương, mắt
mẹ em như hai hòn bi ve, mái tóc mẹ em đen nhánh, má
mẹ em mũm mĩm. Đề: Tả con đường đến trường. Nhà
em cách trường không xa, hàng ngày em đều đi trên con
đường nhỏ ấy. Những ngày nắng thì không sao nhưng
cứ đến mùa mưa thì nước ngập lên tận bẹn. Đề:
Tả vườn rau muống. Nhà em có một vườn rau muống.
Chiều chiều mẹ em lại bắc thang lên hái lá về nấu
canh. Đề: Tả con gà. Con gà nhà em mới nở trông đến
là xinh đẹp, cái đầu nó to như một nắm tay, còn
mình nó to như hai nắm tay. Đề: Tả một thắng cảnh.
Tuần trước, bố mẹ em cho em đi thăm rừng Cúc
Phương. Rừng Cúc Phương toàn là hoa cúc phương. Đề:
Tả con lợn. Nhà em có nuôi một con heo có bộ lông
vàng óng, hai tai to như hai lá mít, hai mắt to như hai
hạt điều, cái đầu to bằng trái dừa khô, và cái
bụng to bằng chiếc thùng gánh nước... Đề: Tả về
người bạn thân của em. Em có một người bạn rất
thân tên là Trung Hiếu. Mắt bạn đen như hai hột na. Da
bạn trắng như tuyết. Tóc bạn đen như gỗ mun. Môi
bạn đỏ như son. Hàng ngày, em với bạn thường rủ
nhau đi học. Đề: Em hãy phân tích câu tục ngữ "Uống
nước nhớ nguồn" Câu tục ngữ uống nước nhớ
nguồn cho ta thấy nước ta có nguồn nước rất dồi
dào. Nước rất quan trọng trong đời sống chúng ta:
cây cối cũng cần nước, ví dụ: đậu bắp, động
vật cũng cần nước, ví dụ: trâu, bò, gà, vịt...
Không có nước thì con người sẽ chết. Câu tục ngữ
uống nước nhớ nguồn làm em liên tưởng đến câu
tục ngữ "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" nghĩa là ăn
quả rồi phải nhớ giữ lại hạt để trồng cây
mới. Đề: Tả con gà. Nhà em có nuôi một con gà rất
to và đẹp, nó nặng chừng 10 kg, bụng to như cái
chậu, mỏ nó như hai hạt trấu chắp lại.... Đề: Tả
con voi. Chủ nhật tuần vừa rồi em được mẹ em cho
đi chơi công viên, ở đó có rất nhiều con vật nhưng
em thích nhất là con voi. Con voi có cái tai như cái
chổi, cái mồm như cái máy tính laptop của mẹ em.
Đề: Tả con gà trống. Mẹ đi chợ mua cho em một con
gà trống con. Em rất thích. Sau mấy tháng chăm nom chú
gà, bây giờ nhà em có thêm được 5 chú gà con. Đề:
Hãy đặt câu có từ "đỡ đần". Vì em chăm học nên
em đỡ đần. Đề: Tả cô giáo em. Cô giáo em cao 1m3,
dáng người to ngang trông rất vừa vặn... Mỗi khi
chúng em lên nộp bài, mắt cô sáng lên như 2 cái đèn
pin. Đề: Tả về con vật mà em yêu thích. Nhà em nuôi
một con mèo. Thân hình của nó to bằng cái chậu tắm
còn đôi tai nó lại chỉ nhỏ bằng cái móng tay của
em. Đề: Tả về gia đình em. Nhà em có 3 người, em thì
đi học, mẹ em thì làm ruộng, còn bố em làm bộ đội
ngoài đảo xa và bán điện thoại di động. Đề: Tả
con gà trống (của một học sinh thành phố). Nhà em có
một con gà trống. Trông nó rất đẹp. Toàn thân nó
phủ một màu vàng. Nó chẳng biết gáy cũng chẳng
biết làm gì. Miệng nó thường ngậm một bông hoa
hồng. Mẹ em thường đặt nó trên bàn thờ để thắp
hương cúng cụ. Đề: Đặt câu có từ Hán Việt. Cái
thủ của bạn Hương rất to. Đề: Hãy tả về một
người bạn thân của em. Em có cô bạn tên là Hương.
Bạn có mái tóc đen nhánh. Đôi mắt to, cái bụng của
bạn trắng hếu. Đề: Hãy tả một loại cây mà nhà em
trồng? Nhà em có trồng một cây chuối. Đến mùa
chuối ra quả. Cả buồng chuối dài 3 cm. Lúc quả chín
mẹ em chia cho hàng xóm, ăn mấy ngày không hết. Đề:
Tả về vật nuôi trong nhà em. Nhà em có một con mèo tam
thể rất đẹp. Nó tên là Miu Miu. Lông nó óng mượt.
Đôi mắt nó tròn to như 2 hòn bi. Mấy cái râu vểnh
lên vểnh xuống. Từ ngày có Miu Miu, chuột chạy hết
sang nhà hàng xóm. Em rất quý con mèo nhà em. Đề: Em
hãy tả về bà của mình. Nhà em có nuôi một bà nội
suốt ngày ngồi phẩy quạt nhưng ruồi không bay khỏi
miệng, mồm luôn dạy cháu phải sạch nhưng bà lại
lấy khăn lau bàn để lau ly uống nước. Đề: Tả con
trâu. Quê em nhà nhà làm nông nghiệp nên gia đình ai
cũng có một con trâu. Chú trâu nhà em rất khỏe mạnh
và chăm chỉ. Ngày ngày chú theo bố em ra đồng để
cày ruộng. Thân hình chú vạm vỡ, 2 chiếc ngà dương
lên oai hùng. Chân chú rất to và đen hơn chân bố em.
Đề: Tả con mèo. Nhà em có nuôi một chú mèo. Lông chú
trắng mượt rất xinh xắn. Đầu chú to đúng bằng
quả bóng nhựa 1.500 đồng mà mẹ mới mua cho em. Đề:
Tả về anh chị em của em. Ông anh trai nhà em rất con
trai và thông minh nữa, hẳn là vì anh có cái đầu to
như trái dừa khô và đôi mắt đen huyền óng ả. Đề:
Tả con gà. Nhà em có nuôi 1 con gà trống, chú ăn rất
khỏe lớn rất nhanh càng lớn chú càng giống gà mái.
Đề: Tả buổi đi chơi mà em tham gia. Chủ nhật vừa
qua cả nhà em được tổ chức đi Vũng Tàu. Mọi
người dậy từ rất sớm để tập hợp lên xe. Đi
được một quãng đường mọi người trên xe đều
ngủ chỉ trừ bác tài là còn thức vì bác đã uống
thuốc chống ngủ. Đề: Tả con trâu (của một học
sinh thành phố). Nhà em có nuôi một con trâu. Nó đáng
yêu lắm. Hàng ngày, mẹ xích nó ở góc hiên. Trên cổ
nó có đeo một cái nơ màu hồng thật xinh xắn. Nó ăn
rất ít cơm. Nó có khuôn mặt trái xoan thanh tú. Đề:
Tả một buổi học. Tùng tùng tùng, tiếng trống vang
lên báo hiệu đã đến giờ vào lớp. Không còn cảnh
nô nghịch, chạy nhảy nhốn nháo nữa. Các bạn, ai ai
vào vị trí của người đó. Sách vở để ngay ngắn
trên bàn. Cô giáo bước vào lớp. Học sinh đứng dậy
chào cô. Cô mặc chiếc áo dài hoa rất đẹp. Tóc cô
thẳng mượt thả đến ngang lưng. Cô đặt chiếc cặp
đen lên bàn và cất tiếng dịu dàng: "Hôm nay có ai
đóng tiền không?" Đề: Tả em bé. Ở bên nhà em có
một bé gái rất dễ thương, hai mắt em bé to tròn như
hai hột lạc sống, cái mũi em to như cái trống. Đề:
Tả con gà trống. Nhà em có con gà trống rất to, chân
dài. Hôm qua nó bị thiến rồi nên nó không đạp mái
được nữa. Đề: Tả một cái cây. Cái cây rất cao
và to, tán lá xum xuê, thân cây mười người ôm không
xuể. Cái cây cao 15 cen ti mét. Đề: Tả con lợn. Con
lợn nhà em. Cái mỏ nó nhọn. Cái đuôi nó cong. Cái
mào nó đỏ. Cái cựa nó sắc. Em rất yêu con lợn nhà
em. Đề: Tả ông nội. Ông nội em đẹp lão lắm, hai
mắt ông tròn xoe như hai hòn bi ve, râu ông dài và
mượt như chùm hoa bắp ngô, lúc nào đi ông cũng chống
gậy giống như hề Sác-lô. Đề: Tả bác công nhân. Tay
bác toàn dầu mỡ, trán thì lấm tấm mồ hôi, tai bác
như hai cái mộc nhĩ. Thỉnh thoảng bác hay ra bờ rào
vườn rau nhà em đi vệ sinh. Đề: Tả cô giáo em. Cô
giáo em mặt đỏ như mặt trời, chân đi xào xạc tựa
mây bay. Đề: Tả buổi chào cờ đầu tuần. Sáng thứ
hai tuần nào cũng vậy, trường em lại tổ chức chào
cờ. Đầu tiên là thầy hiệu phó phụ trách lao động
lên mắng mỏ một tí. Sau đó đến lượt thầy hiệu
trưởng lên mắng. Khi thầy hiệu trưởng mắng, cái
cục ở cổ thầy cứ chạy đi, chạy lại. Đề: Tả
cây hoa hồng. Những bông hồng xinh xinh như những con
cún con đậu trên cành. Đề: Tả cây bàng. Ở cạnh
nhà em cách một quán phở có một cây bàng. Cây bàng
đã sống trên 10 năm nên nó đã già và nó đã biến
thành cây đa. Đề: Em hãy tả một con vật mà em yêu
thích nhất. Nhà em có một con chim chích bông, nó nhỏ
và xinh, lông nó màu vàng óng, em thấy nó không ngừng
nhảy và mổ mồi. Em rất yêu con gà của ông em. Đề:
Tả em bé. Gần nhà em có một em bé rất dễ thương,
vì hay bị té nên đầu em bị móp. Đề: Đặt câu hỏi
với vần: ôm, ốp. Mẹ em tát em đôm đốp. Đề: Đặt
câu về phần gieo âm tiết. Có con trâu, bị ruồi bâu.
Có con chim, bị vỡ tim. Đề: Tả một con vật mà em
yêu nhất. Nhà em có nuôi một con gà trống rất đẹp,
em rất yêu nó. Hằng ngày, em cho nó ăn. Chiều chiều,
em dắt nó đi dạo mát 15 phút. Đề: Tả cái cặp đi
học. Bố em mua cho em cái cặp rất to và đẹp, hàng
ngày em đeo nó đến trường, cái cặp đựng được
nhiều sách vở, nó to như cái bình thuốc sâu của mẹ
vậy! Đề: Tả về ông bà nội. Khi em được sinh ra
thì bố mẹ em đã làm ma cho ông bà nội em rồi. Đề:
Tả về cô giáo mà em yêu quý. Cô giáo em rất đẹp.
Cô có vầng trán cao thể hiện sự thông minh. Mái tóc
cô dài thướt tha như dòng nước. Nhưng em thích nhất
vẫn là cái răng nanh của cô, nó làm cho nụ cười
của cô thêm phần quyến rũ. Cô còn hay đọc tập làm
văn cho tụi em chép nữa. Đề: Tả người thầy em yêu
quý nhất. Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo
phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả
bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em
đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần,
đến khi nhỏ bằng con chó em mới quay lại bản. Đề:
Tả anh bộ đội. Anh bộ đội cao khoảng 1,20 m, súng AK
dài 1m rưỡi. ề: Tả ông nội. Nhà em có nuôi một ông
nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm
chăn ngủ, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi: Cơm chín
chưa bây? Đề: Tả một dụng cụ lao động. Chiếc
xẻng nhà em có rất nhiều công dụng, để hốt rác,
và còn dùng để xúc cứt chó nữa. Đề: Miêu tả về
bố. Bố em có một hàm răng vàng, hàm răng vàng luôn
chỉ bảo em những điều hay lẽ phải. Đề: Em hãy
miêu tả mùa Xuân. Mùa xuân ở quê em mở rất nhiều
hội. Những ngày ấy trên đường có rất nhiều các
ông các bà tay cầm ô đen ô đỏ đứng nói chuyện râm
ran như bầy chim líu lo gọi mẹ. Đề: Tả cây chuối.
Nhà em có cây chuối rất to, chiều nào em cũng leo lên
cây chuối ngồi hóng mát. Khi em leo lên, cành chuối rung
rinh. Đề: Tả con gà. Nhà em có nuôi một con gà trống,
mắt nó tròn như 2 hòn bi ve, đầu nó to như cái đũa
cả, mào nó to và bị lệch giống như tai lợn vậy.
Đề: Tả dòng sông. Gần nhà em có một con sông rất
nên thơ. Sông uốn lượn như một khúc gỗ. Đề: Tả
con lợn. Con lợn nhà em nuôi được 3 năm rồi nên
trông nó phổng phao lắm. Đầu nó to bằng quả bóng.
Thân nó to bằng cái phích nước sôi nhà em. Cái mũi
thì trông như cái ổ cắm điện. Em rất yêu quý con
lợn nhà em. Quả thật, lợn vừa là bạn vừa là thầy
của em. Đề: Tả bà nội. Bà nội em rất già, da bà
nhăn nheo, bà đã rụng hết răng. Món ăn vặt yêu thích
nhất của bà là ngô rang. Đề: Tả cây hoa. Trước
cửa nhà em có trồng một cây hoa hồng. Buổi sáng, hoa
nở chào đón ánh nắng mặt trời. Buổi chiều, hoa
cụp lại sau một ngày làm việc mệt nhọc. Đề: Tả
một bạn học sinh giỏi ở lớp. Lớp em có một bạn
tên là Mai, bạn học rất giỏi. Bạn có thân hình
mảnh khảnh, da trắng như tuyết. Mũi bạn hơi hếch
về phía trước để sẵn sàng đón những luồng gió
nam lồng lộng thổi. Đi đâu, bạn cũng phải hơi cúi
mình để tránh những giọt nước mưa rơi tọt vào
trong bụng... Đề: Em hãy tả anh bộ đội. Ở gần nhà
em có một anh bộ đội. Anh có nước da giống màu bộ
bàn ghế nhà em, mái tóc nhọn hoắt cong như hình lưỡi
liềm. Đề: Trong các tác phẩm em đã học và đọc
thêm, em thích tác phẩm nào nhất ? Vì sao? Hãy chứng
minh? Trong kho tàng văn học VN, ca dao dân ca rất giàu
tình nghĩa.... Trong các tác phẩm đó em thích nhất là
tác phẩm "Tắt đèn" của chị Dậu. Vì nó đã thể
hiện tinh thần chống lại sự bóc lột phụ nữ của
chế độ phong kiến. Chứng tỏ chị đã bán con và chó
để thể hiện tinh thần kiên quyết đó... Đề: Tả
bà em. Hình dáng của bà nội rất là thấp, được hai
mét rưỡi, dáng đi rất chậm chạp, mắt thì lừ đừ
ít thấy gì nữa. Tính tình bà rất là bực bội. Khi
cười miệng bà em móm mém như miệng cái hố. Đề:
Tả quang cảnh sân trường. Mới tờ mờ sáng đã
nghe tiếng thầy dõng dạc hô: "Lượm rác nào".
Đề: Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, nhân
vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn
tấm ảnh do mình chụp thường nhìn thấy những hình
ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì? Tuy em
chưa đọc bài văn Nhưng em xin đoán thế này đúng
không Nhân vật nghệ sĩ là chồng Chắc ngắm ảnh vợ
trong phòng ông ta Nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa”
Chỗ người vợ đứng chắc là thuyền kia Có thể tàu
đắm chia lìa Chồng thì sống sót vợ về cõi âm
Người chồng nghệ sĩ âm thầm Ngồi ngắm ảnh vợ,
tay cầm khăn lau Vừa than, vừa khóc, lòng đau Hiện lên
hình ảnh yêu nhau thuở nào Hình ảnh hiện đến cao
trào... Em xin ngừng kể không là em “die” Thầy cô
vất vả chấm thi Xin thầy cô chấm nhẹ bài của em
Viết vui cho thầy cô xem Câu này em bỏ, xin không chấm
vào. 27. Đề: Tả anh bộ đội. Gần nhà em có một anh
bộ đội, anh bơi rất giỏi, anh có thể bơi lập lờ
trên mặt nước, trông xa cứ như người chết đuối.
Đề: Tả con gà trống. Bà nội em có nuôi một con gà
trống. Chú gà rất lực lưỡng như lực sĩ đấu vật.
Bộ lông nhiều màu bóng mượt. Cái mào đỏ chót đầy
kiêu hãnh. Chân chú gà đã có cựa rắn chắc và khỏe
mạnh. Sáng sáng, chú trống dẫn đàn gà con đi tìm
mồi. Đề: Em hãy điền dấu phẩy vào đúng chỗ "gia
đình hai con vợ chồng hạnh phúc". Gia đình hai con vợ,
chồng hạnh phúc. Đề: Tả về một người gương mẫu
ở nơi em sinh sống. Làng em có một bác gương mẫu
nhất làng, bác ấy là bác truởng thôn. Em nghe mẹ nói
bác ấy ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng nhưng em thấy
ngày nào bác ấy cũng vác loa để thông báo mọi việc
cho xóm làng. Đề: Tả người bà mà em yêu quý. Bà em
thường bịt trên đầu một chiếc khăn nhung, bên
dưới chiếc khăn thò ra hai cái tai vừa to vừa dài.






Các ý kiến mới nhất